21/09/2026
quantrihoakira
31

Anh ấy đã giữ lời hứa cho vợ con một cuộc sống đủ đầy. Rồi một ngày, anh nhận ra con trai có chuyện gì cũng gọi cho mẹ hoặc bạn, chưa bao giờ gọi cho bố…

Hôm nay tôi nghe một lời tâm sự, về một người đàn ông đã làm đúng tất cả những gì anh hứa.

Ngày cưới, anh hứa sẽ cho vợ con một cuộc sống tốt hơn. Anh giữ lời. Căn nhà rộng dần lên, chiếc xe đổi đời mới hơn. Con cái chưa bao giờ phải thiếu thứ gì để bằng bạn bằng bè.

Chỉ có điều, cậu con trai càng lớn càng xa bố.

Bố ngủ ở phòng bên cạnh

Mỗi khi có chuyện, cậu bé gọi cho mẹ, tâm sự với bạn. Điểm kém, bị bạn trêu quá đà, bị thầy cô nhắc nhở… cậu đều kêu ca với bạn hoặc báo cho mẹ, và mẹ là người đứng ra giải quyết. Bố sẽ được mẹ thông tin lại vào buổi tối khi có mặt ở nhà. Chưa lần nào cậu nghĩ đến chuyện gọi cho bố.

Cậu trai có yêu bố không? Có chứ. Chỉ là cậu không quen. Trong suy nghĩ của cậu, bố là người đàn ông đi làm kiếm tiền lo cho gia đình, là người đưa tiền đóng học, tiền đi chơi. Bố ngủ ở phòng bên cạnh, cách một bức tường mỏng. Vậy mà giữa hai bố con có một khoảng cách rất khó gọi tên.

Tôi đoán người bố cũng không hiểu nổi. Anh đã làm lụng vì ai, nếu không phải vì con?

Ở có mặt và ở cùng là hai chuyện khác nhau

Nhà tâm lý học Michael Lamb, một trong những người nghiên cứu sớm nhất về vai trò người cha, chia sự tham gia của cha vào đời con thành vài lớp. Có lớp sẵn sàng (accessibility): bố ở trong nhà, con cần thì có thể tìm thấy. Có lớp gắn kết trực tiếp (engagement): bố cùng con ăn bữa cơm, đá quả bóng, nghe con kể một chuyện chẳng đâu vào đâu (Lamb và cộng sự, 1985).

Người bố trong câu chuyện kia có mặt ở nhà. Nhưng có lẽ anh hiếm khi thật sự ở cùng con.

Một tổng quan nghiên cứu năm 2008 của Anna Sarkadi và cộng sự, tổng hợp các nghiên cứu theo dõi trẻ em qua nhiều năm, ghi nhận rằng khi người cha tham gia tích cực vào đời sống của con, trẻ có xu hướng phát triển tốt hơn về mặt tâm lý, hành vi và các mối quan hệ xã hội. Thứ tạo nên khác biệt là thời gian cha con thật sự ở bên nhau, chứ không phải số tiền người cha mang về.

Và người phụ nữ đứng ở giữa

Nghe xong câu chuyện, tôi nghĩ đến rất nhiều người đàn ông như thế. Rồi tôi nghĩ nhiều hơn đến những người làm vợ, làm mẹ.

Có không ít những người phụ nữ nuôi con một mình ngay trong hôn nhân. Họ lấp vào chỗ trống của một người cha vắng mặt: họp phụ huynh, đưa con đi khám, đưa con đi chơi, nấu ăn cho con, ngồi nghe con khóc lúc nửa đêm… Rồi đến khi con hỏi, họ lại là người giải thích: “Bố thương con lắm, nhưng bố bận.”

Câu ấy nói một vài lần thì hợp lý, nhưng nếu nó được nói đến lần thứ một trăm thì người nói cũng bắt đầu không chắc mình tin nó nữa.

Mệt lắm. Mệt vì phải làm hai vai. Mệt vì phải bảo vệ hình ảnh một người cha mà chính mình cũng đang thấy xa lạ.

Hai người cùng tin vào một định nghĩa

Tôi không nghĩ đây là chuyện ai đúng, ai sai.

Người bố đi làm quần quật vì anh tin như thế là thương con. Người mẹ gồng gánh mọi thứ và bao che cho sự vắng mặt của chồng, vì chị cũng tin như thế là thương con. Cả hai đều thương. Cả hai cùng mang trong đầu một định nghĩa về “lo cho gia đình” mà có lẽ họ thừa hưởng từ bố mẹ mình, nơi người đàn ông kiếm tiền, người phụ nữ giữ nhà.

Chỉ là chưa ai dừng lại để hỏi đứa con: con cần gì?

Tiền là một cách yêu thương. Điều đó đúng, và tôi không muốn coi nhẹ những năm tháng người đàn ông kia đã đánh đổi. Sự hiện diện cũng là một cách yêu thương. Điểm khác nhau là tiền thiếu năm nay có thể kiếm bù năm sau. Còn năm con mười lăm tuổi, cần bố ngồi nghe chuyện ở trường, thì không có năm thứ hai.

Cái gì cũng có cái giá của nó. Có những cái giá mình chỉ nhìn thấy khi đứa con đã lớn, và đã quen gọi cho một người khác.

Chúng ta đều là cha mẹ, hoặc từng là con của một người cha như thế. Bạn đang hiểu “lo cho gia đình” theo nghĩa nào, và bạn có chắc những người thân trong nhà cũng hiểu theo đúng nghĩa ấy không?

Tham khảo:

  • Lamb, M. E., Pleck, J. H., Charnov, E. L., & Levine, J. A. (1985). Paternal behavior in humans. American Zoologist, 25(3), 883–894.
  • Sarkadi, A., Kristiansson, R., Oberklaid, F., & Bremberg, S. (2008). Fathers’ involvement and children’s developmental outcomes: A systematic review of longitudinal studies. Acta Paediatrica, 97(2), 153–158.

Có 0 bình luận

Viết bình luận của bạn

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường bắt buộc được đánh dấu *
Các bài viết khác